Saturday, November 13, 2021


THƠ ĐỀ HỌA
Ráng hồng tựa má em
Hàng thông xanh - tóc rủ
Mắt ướt - Sông êm đềm
Sao trái tim - Tuyết phủ?

    Vẽ xong, đang ngắm nghía thì bỗng nhiên chợt nhớ ra rằng các cụ thời xưa thường hay làm thơ đề tranh (thơ đề họa) nên cao hứng bắt chước thử xem sao! Ngược đời một tý cho vui chứ ngày nay với dòng tranh hiện đại thì người ta không làm thơ đề họa. Nhưng tại sao lại không được nhỉ, người đời vẫn nói “chẳng có gì là không thể” mà. Vả lại nếu làm thơ cho vui, không tự quá khắt khe trong từng câu chữ, ý tứ thì đâu có khó gì. Thà tức cảnh mà viết ra mấy câu thơ ngẫu hứng còn nhanh hơn là ngồi đó mà tự lý giải cho mình cái câu “tại sao lại không được”.
    Nhưng nếu nói nghiêm túc thì quan niệm về sự tương đồng giữa thơ và họa đã được quan tâm từ thời cổ đại. Người ta thường hay nói rằng bài thơ này “như một bức tranh”, cũng có khi lại nói bức tranh kia “như một bài thơ”. Khái niệm “thi họa đồng chất” ra đời rất sớm ở phương Tây. Ví dụ từ thời La Mã cổ đại đã có câu “họa là thơ không lời, thơ là họa có lời” (Simonides) và “thơ như họa” (Horace ). Như vậy từ thời xa xưa con người đã tìm ra tính họa trong thơ, tính thơ trong họa và xem chúng là hai loại hình nghệ thuật gần gũi, có quan hệ mật thiết với nhau. Không ít nhà thơ đã lấy cảm hứng sáng tác từ những tác phẩm hội họa, âm nhạc, điêu khắc…
    Tại Trung Quốc, vị trí của môn hội họa theo dòng lịch sử cũng dần được khẳng định. Đến thời Tống, hội họa đã trở thành một môn trong thi cử mà các sĩ tử phải vẽ một bức tranh dựa theo ý một bài thơ. Lúc này tuy ở Trung Quốc hội họa vẫn bị xếp đứng sau thơ ca, nhưng nó đã dần trở thành một trong các tiêu chuẩn tuyển chọn nhân tài cho đất nước.
    Từ thời rất xa xưa, người Trung Quốc đã biết kết hợp thơ ca và hội họa, sáng tạo ra thể loại thơ đề tranh (đề họa thi) để phát huy ưu điểm và hạn chế những khuyết điểm của các loại hình nghệ thuật này. Thơ đề tranh bắt đầu xuất hiện từ thời Ngụy -Tấn- Nam - Bắc triều, lúc đầu nó tồn tại dưới dạng thơ đề trên các tấm bình phong, thơ đề trên quạt. Đến thời Đường người ta vẫn chưa đề thơ thẳng lên tranh, mà chúng lúc này vẫn là hai tác phẩm tách biệt nhau về hình thức không gian. Có nghiên cứu cho rằng chính Tào Hi thời Tam Quốc là người đầu tiên làm thơ đề tranh Thủy mặc.
    Ở Nhật Bản và Triều Tiên tuy loại thơ đề họa không phát triển mạnh bằng Trung Quốc, nhưng vẫn vượt trội hẳn so với Việt Nam ta. Bởi ở Việt Nam từ thế kỷ 19 về trước tuy thơ ca phát triển, nhưng hội họa lại gần như không khởi sắc, hầu như không có họa sĩ lớn nào mà chỉ có các “thợ vẽ” với loại tranh dân gian kiểu Đông Hồ … Do vậy loại thơ đề tranh ở Việt Nam chỉ xuất hiện rải rác, chẳng hạn bài thất ngôn tứ tuyệt “ Đề bức tranh Bá Nha gảy đàn cầm” của Nguyễn Trãi từ thế kỷ 15, hay như bài thơ thất ngôn bát cú “Đề tranh Tố nữ” của Hồ Xuân Hương mãi thế kỷ 19.
    Chính vì sự yếu kém này của hội họa nên ở Việt Nam vắng bóng thể loại thơ của họa sĩ cũng như không thấy loại tranh vẽ của thi sĩ. Có thể nói hội họa ở Việt Nam không phát triển dẫn đến các thi sĩ của ta đã phải đề thơ lên tranh vẽ của Trung Quốc như trường hợp của Nguyễn Trãi hoặc lên tranh dân gian như trường hợp của Hồ Xuân Hương. Thậm chí thực chất của những bài thơ nói trên cũng chỉ được coi là loại thơ vịnh họa (thơ ở ngoài tranh), chứ không phải thơ đề họa (đề thơ trực tiếp lên tranh). Cũng do vậy, thơ đề họa này (hay nói đúng hơn là thơ vịnh họa) chỉ thiên về chuyện tác giả mượn bức tranh như một cái cớ để bộc lộ nỗi niềm của mình mà thôi.
   

Ochuviet © 2019 - Design by MisaTemplateism.comTemplatelib